Thứ Ba, 25 tháng 2, 2020

Đằng Sau Nguyên Do Tăng Vốn Của Công Ty Tesla



Mặc dù Công ty Tesla vẫn chưa công bố kết quả lợi nhuận cả năm trên cơ sở nguyên tắc kế toán chung GAAP, năm 2019 đã khép lại với dòng tiền tự do dương, tăng lên khoảng 1,1 tỷ USD từ dòng tiền tự do âm vào năm 2018. Đó là kết quả từ việc cắt giảm chi phí hoạt động và chi phí vốn đầy phi thường của công ty, ngay cả trong khi doanh số tăng.
Mẫu Model Y của công ty Tesla

Ngoài ra, công ty Tesla dường như đã khiến các câu hỏi về thanh khoản không cần đưa ra thêm nữa. Đến cuối năm 2019, công ty có 6,5 tỷ USD tiền mặt và các khoản tương đương tiền so với 13,4 tỷ USD nợ. Khoản nợ ròng đó không lớn, khi xét rằng rất nhiều phần nợ trong số đó có thể chuyển đổi thành vốn chủ sở hữu và chịu lãi suất thấp hoặc không ảnh hưởng đến toàn bộ công ty. Và một công ty đang có dòng tiền dương và tăng trưởng như Tesla hoàn toàn có thể xử lý khoản nợ này.
Tuy nhiên, ngay cả với tất cả những mặt tích cực này, Tesla đã quyết định bán 2,65 triệu cổ phiếu ra công chúng vào tuần trước với mức chiết khấu 4,6% tương đương khoảng 767,29 USD mỗi cổ phiếu, và mang về cho công ty khoảng 2 tỷ USD. Vậy vì sao công ty lại bán thêm cổ phiếu, nhất là khi dòng tiền tăng và ban giám đốc gần đây đã tuyên bố rằng không cần phải làm như thế?

Công ty Tesla đã thay đổi giọng điệu

Trong hội nghị Q4 của công ty Tesla với các chuyên gia phân tích vào ngày 30 tháng 1, Musk và CFO Zachary Kirkhorn tuyên bố Tesla không cần phải huy động thêm bất kỳ khoản tiền nào để tài trợ cho các dự án tăng trưởng của Tesla. Các dự án hiện tại bao gồm trình làng mẫu xe Model Y và xây dựng nhà máy sản xuất Châu Âu của công ty tại Berlin, vẫn chưa được thực hiện.
Trong hội nghị, Musk nói:
“… nếu có bất kỳ cách hợp lý nào để tiêu tiền, chúng tôi sẽ chi ngay. Sẽ không có sự kìm hãm với các khoản chi tiêu. Bất cứ điều gì tôi thấy có vẻ mang lại giá trị tốt cho khoản tiền đầu tư, câu trả lời là đồng ý ngay lập tức. Nhưng chúng tôi đang tiêu tiền hiệu quả và chúng tôi không hạn chế những tiến triển của mình. Và mặc cho tất cả những điều đó, chúng tôi vẫn tạo ra được dòng tiền dương. Vì vậy, việc tăng vốn là không cần thiết bởi chúng tôi kỳ vọng vẫn có thể tạo thêm tiền mặt với ngưỡng tăng trưởng này.”
Vậy là theo Musk, có vẻ như Cổ phiếu Tesla không cần tiền mặt để hỗ trợ các khoản đầu tư tăng trưởng của mình.
Tất nhiên, Tesla cũng có thể sử dụng tiền tăng vốn cổ phần để trả nợ. Nhưng ngay cả với hướng đó, Musk đã nói trong hội nghị rằng “Pha loãng cổ phiếu công ty để trả nợ có vẻ không phải là một hành động khôn ngoan.”
Ấy thế mà, chỉ hai tuần sau công ty Tesla lại có hành động đó.

Điều gì đã thay đổi đối với công ty Tesla?

Tesla có thể đã thay đổi giọng điệu của mình vì một vài lý do. Đầu tiên có thể họ đã thiếu thành thật với các câu hỏi liên quan đến tăng vốn. Rõ ràng, nếu thị trường dự đoán bạn sẽ pha loãng số cổ phiếu hiện tại, các nhà đầu tư sẽ tính tỷ lệ pha loãng vào giá cổ phiếu và đánh tụt giá cổ phiếu xuống, từ đó khiến hoạt động tăng vốn sẽ pha loãng tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của các cổ đông nhiều hơn.
Lý do thuyết phục hơn là giá cổ phiếu của Tesla đã tăng vọt trong hai tuần qua, thậm chí từ mức cao đuọc thiết lập trước hội nghị công bố thu nhập. Trước khi phát hành thu nhập ngày 30 tháng 1, cổ phiếu Tesla đã giao dịch khoảng 580 USD/cổ phiếu, tăng hơn 150% so với sáu tháng trước đó. Tuy nhiên, kể từ ngày công bố thu nhập, cổ phiếu đã tăng thêm 37% lên 800 USD/cổ phiếu, và khiến mức vốn hóa thị trường của Tesla tăng lên gần 150 tỷ USD.

Lãnh đạo công ty đang có suy nghĩ gì?

Đợt tăng vọt cuối cùng trong giá cổ phiếu có thể đã khiến ban lãnh đạo thay đổi suy nghĩ về việc pha loãng cổ phiếu công ty. Rốt cuộc, việc tăng vốn thêm 2 tỷ USD tại mức giá cao này chỉ pha loãng tỷ lệ sở hữu của các cổ đông của công ty Tesla khoảng 1,5%. Đó là sự pha loãng tối thiểu – đặc biệt là khi công ty vẫn lỗ trên cơ sở GAAP – biến đây trở thành cơ hội khó có thể bỏ qua.
Cuối cùng, cũng có thể ban lãnh đạo thấy tiềm năng tăng cường sản xuất của mẫu Model Y, pin, xe tải và xe bán tải ở California, Trung Quốc và Châu Âu có tốc độ nhanh hơn trước đây. Ngành ô tô vẫn là ngành thâm dụng vốn rất mạnh, nhưng Tesla đang ở vị thế dẫn đầu trong ngành xe điện, vì vậy ban lãnh đạo có thể nhìn thấy cơ hội tăng cường hoạt động chi tiêu để đi trước các đối thủ cạnh tranh sắp tới của mình.

Hãy thận trọng ở các cấp độ này

Dù nguyên nhân tăng vốn là gì đi chăng nữa, đó có thể là lá cờ cảnh báo lớn với những người mua tiềm năng của cổ phiếu Tesla. Trong quá khứ, khi vốn chủ sở hữu tăng lên, như mức tăng 650 triệu USD năm 2019 và tăng 2,3 tỷ USD trong năm 2016, đó là lúc Tesla cần tiền mặt để tăng cường hoạt động sản xuất và cần phải đốt tiền để đạt được mức sản xuất hiệu quả như hiện nay.
Tuy nhiên, hiện giờ Công ty Tesla có vẻ không cần tiền nhờ cơ cấu chi phí và bảng cân đối kế toán được cải thiện của công ty. Tuy nhiên, ban lãnh đạo nghĩ rằng dù sao việc bán thêm cổ phần cũng là một ý tưởng tốt.
Điều đó sẽ khiến các nhà đầu tư quan tâm trở nên vô cùng cảnh giác trước khi đổ tiền mua cổ phiếu ở các mức giá này. Ngay cả khi những ai bất đắc dĩ phải bán cổ phiếu cũng nghĩ rằng phát hành cổ phiếu là một ý hay, thì đó có thể là một dấu hiệu không nên đi qua phía giao dịch còn lại.
Theo fool

Sau Một Thập Kỷ, Các Nhà Đầu Tư Cuối Cùng Đã Trở Lại Điểm Hòa Vốn



Gần đây, tác giả bài viết này đã bàn về việc so sánh các lần thị trường điều chỉnh, trong đó vai trò của tác động tài chính được cho là chiếm 10-60% mỗi đợt. Nhưng điều gì xảy ra sau đó?

Trong quá trình tăng trưởng mạnh mẽ và thị trường con bò tót kéo dài như hiện nay, các nhà đầu tư trở nên quá tự mãn trước những rủi ro đầu tư tiềm ẩn. Sự tự mãn này được thể hiện qua sự tái xuất của các danh mục đầu tư “couch potato” (lười vận động), “mua-và-năm-giữ” và “chỉ số thụ động”. Những ý tưởng đầu tư này đem lại trái ngọt khi thị trường không ngừng đi lên. Nhưng rồi khi tình thế đảo ngược – một điều tất yếu sẽ xảy đến, chúng sẽ đi ngang rất nhanh.
Mặc dù hiện nay, thị trường tin rằng giảm sâu như vậy là điều không có khả năng xảy ra do sự can thiệp của Ngân hàng Trung ương, nhưng thị trường đã hai lần bốc hơi 50% giá trị như vậy kể từ đầu thế kỷ này. Nguyên nhân thì có muôn hình vạn trạng, nhưng kết quả thì luôn có chung dáng hình. Lần sụt giảm nghiêm trọng tới đây của thị trường sẽ đến từ các khoản nợ khổng lồ của doanh nghiệp, lương hưu không được chính phủ tài trợ và sự bốc hơi của các kế hoạch mua lại cổ phiếu – vốn chiếm gần 100% lượng mua ròng kể từ năm 2018.
Suy thoái thị trường là một hằng số đối với thị trường tài chính. Cho dù suy thoái là nhỏ hay lớn, tác động của nó đến các nhà đầu tư không chỉ thể hiện ở sự giảm giá. Đây là một trong những hậu quả quan trọng nhất của những lần thị trường điều chỉnh bởi nó liên quan đến các mục tiêu đầu tư dài hạn, tuy nhiên nó thường bị bỏ qua.
Có một loạt bài báo ca ngợi sự lên hương của S&P 500 trong giai đoạn thị trường con bò tót so với mức đáy năm 2009, và nhận định rằng nếu các nhà đầu tư chỉ cần giữ các danh mục đầu tư trong thời kỳ suy thoái năm 2008, hay tốt hơn là mua vào với mức đáy hồi tháng 3/2009, họ có lẽ sẽ trúng đậm.
Thật không may, phần lớn các nhà đầu tư nháo nhào bán tháo khi cuộc khủng hoảng tài chính chuẩn bị kết thúc và mãi cho tới nhiều năm sau đó mới dám đầu tư lại. Không có gì lạ khi thấy những cá nhân hoàn toàn rời khỏi thị trường, ngay cả sau khi thị trường đã tăng trở lại cả thập kỷ.
Đây chính là đòn tâm lý nặng nề mà thị trường con gấu tàn khốc để lại đối với các nhà đầu tư.
Các thị trường con gấu khiến cho các nhà đầu tư mắc phải những sai lầm nghiêm trọng:
  1. Họ đã trả mức giá giá cao cho các công ty mà họ đang đầu tư vào ở thị trường con bò tót. Họ phải trả giá khi lợi nhuận mà họ thu được trong tương lai thấp hơn vì khi đó việc “mua giá cao” chắc chắn sẽ biến thành “bán giá thấp”.
  2. Các nhà đầu tư hoảng loạn khi giá trị thị trường sụt giảm. Khi thị trường lên như diều gặp gió, dễ quên rằng số tiền chúng ta đầu tư là “tiền tiết kiệm” mà gia đình chúng ta phải dựa vào trong tương lai. Nhiều nhà đầu tư tự nhận mình người theo đuổi chiến lược “mua và nắm giữ” đã phải thay đổi suy nghĩ sau khi nếm trải những khoản thua lỗ lớn. Các nhà đầu tư sẵn sàng “thoát khỏi với bất cứ giá nào” thường bỏ qua biến động. Biến động không phải lúc nào cũng xấu, nhưng biến động tăng lên cùng với sự sụt giảm lớn về giá trị, cuối cùng sẽ khiến các nhà đầu tư “sợ hãi và hoảng loạn”.
  3. Bỏ qua phân tích thị trường. Khi thị trường cứ đi lên không ngừng, các nhà đầu tư bắt đầu “hợp lý hóa” các lý do mà họ trả quá cao cho giá trị trên thị trường. Họ tìm kiếm những thiên kiến để khẳng định quan điểm của mình, họ có xu hướng bỏ qua bất kỳ phân tích thị trường nào làm lung lay niềm hy vọng giá lên của họ. Cụm từ “lần này sẽ khác” là một dấu hiệu đặc trưng cho tâm lý này.
“Lý thuyết đầu tư mua và nắm giữ phủ nhận rằng cổ phiếu đắt hay rẻ, nó luôn khuyến khích các nhà đầu tư mua cổ phiếu, bất kể đặc điểm giá trị của thị trường chứng khoán có ra sao.” – Ken Solow
Rốt cục, vấn đề chính với chiến lược mua và nắm giữ đầu tư là ở BẠN!

Vấn đề lương hưu

Khi thị trường con bò tót vẫn đang sung mãn, các nhà đầu tư cá nhân làm hai việc khiến họ gặp áp lực tài chính.
  1. Bắt đầu đối xử với thị trường như một sòng bạc với hy vọng “phất lên nhanh chóng”, và
  2. Giảm bớt các khoản đóng góp của họ với kỳ vọng rằng lợi nhuận cao sẽ giúp lấp đầy khoảng trống.
Thật không may, các quỹ hưu trí trên khắp nước Mỹ hiện nay cũng gặp phải vấn đề này. Các nhà quản lý lương hưu đã đưa ra những giả định hoàn trả không thực tế trong 30 năm qua – và điều này đang biến thành rắc rối. “Lương hưu được các chuyên gia tính toán dựa trên những giả định liên quan đến nhân khẩu học ở hiện tại và tương lai, tuổi thọ, lợi tức đầu tư, mức đóng góp hoặc thuế suất, và các khoản thanh toán cho người thụ hưởng, cùng với các biến số khác. Sau hai giai đoạn thị trường con gấu nghiêm trọng và lợi nhuận hàng năm dưới chuẩn kể từ đầu thế kỷ, vấn đề lớn nhất nằm ở tỷ lệ hoàn vốn đầu tư dự kiến. Dựa trên các giả định sai lầm là nguyên nhân cốt lõi gây ra tình trạng không thể đáp ứng các nghĩa vụ trong tương lai. Khi ước tính lợi nhuận quá cao, giá trị lương hưu trong tương lai bị thổi phồng một cách thái quá, hệ quả là số tiền đóng góp cần thiết của các cá nhân và chính phủ vào hệ thống lương hưu giảm xuống. Lương hưu VẪN gắn với giả định hoàn vốn đầu tư hàng năm trong khoảng 7-8% ngay cả sau nhiều năm hoạt động kém hiệu quả.
Tuy nhiên, tại sao các quỹ hưu trí vẫn tiếp tục có giả định lợi tức đầu tư cao mặc dù nhiều năm hoạt động kém hiệu quả? Để giảm yêu cầu đóng góp (tiết kiệm) của các thành viên của họ – đây chỉ là một lý do. Vấn đề này tương tự vấn đề mà một người Mỹ trung lưu gặp phải khi dự kiến thu về lợi nhuận trung bình hàng năm 6-8% khi thực hiện chiến lược đầu tư của họ. Tại sao bạn nên tiết kiệm tiền nếu thị trường có thể làm việc cho bạn, phải không? Đây là một chủ đề phổ biến trong nhiều lời khuyên trên các phương tiện truyền thông chính thống.
“Suze Orman giải thích rằng nếu một người 25 tuổi gửi 100 USD vào một quỹ Roth IR mỗi tháng, người đó có thể có 1 triệu USD khi nghỉ hưu.”
Vấn đề với phát biểu này của bà Orman là ở chỗ để có được 1 triệu USD khi nghỉ hưu, người này phải đạt lợi nhuận hàng năm 11,25% (điều chỉnh theo lạm phát) mỗi năm trong 40 năm tiếp theo. Điều đó không thực tế cho lắm. Tiết kiệm dưới mức là một trong những vấn đề cơ bản khiến các nhà đầu tư không đạt được các mục tiêu tài chính của mình khi nghỉ hưu. Một vấn đề khác, như đã lưu ý ở trên, là phần quan trọng nhất trong phân tích bị những người ủng hộ trường phái “mua và nắm giữ” bỏ qua.

Quay trở lại điểm hòa vốn, thậm chí còn chưa được đến điểm hòa vốn

Dưới đây là một lời khuyên phổ biến.
“Nếu bạn đầu tư 100.000 USD vào thị trường khi nó đạt đỉnh vào năm 2000 hoặc năm 2007, danh mục đầu tư của bạn sẽ quay trở lại điểm hòa vốn trong năm 2013. Kể từ đó, danh mục đầu tư của bạn sẽ tăng lên hơn 200.000 USD.”
Dưới đây là biểu đồ tương đối chứng minh tuyên bố trên là chính xác. (Tổng lợi nhuận thực, được điều chỉnh theo lạm phát của khoản đầu tư 100.000 USD.)

Không ai nói nhiều về các nhà đầu tư đã có mặt trên thị trường kể từ đầu thế kỷ, nhưng đó là một trong những vấn đề khiến cho nhiều người Mỹ không được chính phủ tài trợ tiền hưu trí. Trong khi Phố Wall tuyên bố thị trường mang lại lợi nhuận hàng năm từ 6% trở lên, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận hàng năm kể từ năm 2000, trên cơ sở tổng lợi nhuận được điều chỉnh theo lạm phát, chỉ ở mức 4%.
Tuy nhiên, do hầu hết các phân tích được đưa ra để hỗ trợ cho quan điểm “mua và nắm giữ” bắt đầu phân tích từ thời điểm thị trường đạt đỉnh trong năm 2007, lợi nhuận trung bình thực ra chỉ đtạ 6,64%.
Đây là vấn đề.
Trong khi danh mục đầu tư của bạn đã trở lại điểm hòa vốn, trên cơ sở tổng lợi nhuận, 6 hoặc 13 năm sau khi bạn đầu tư lần đầu, tùy thuộc vào ngày bắt đầu của bạn, bạn KHÔNG trở lại điểm hòa vốn.
Bạn còn nhớ kế hoạch đầu tư của mình chứ? Vâng, kế hoạch đó được các phương tiện truyền thông chính thống “tâng bốc” với mức lợi nhuận giả định hàng năm là 6%?
Biểu đồ dưới đây cho thấy giá trị của khoản đầu tư 100.000 USD với lợi nhuận 6% hàng năm từ năm 2000 hoặc 2007.

Có vấn đề gì đó với biểu đồ này.
Một nhà đầu tư đã tăng gấp ba số tiền của họ từ năm 2000 và tăng gấp đôi từ năm 2007.
Thật không may, bạn không may mắn như thế.
Hãy thử chồng hai biểu đồ trên xem sao.
Nếu kế hoạch tài chính của bạn dựa trên lãi suất tiết kiệm giảm xuống và và tỷ lệ lợi nhuận cao, bạn sẽ không đạt được mục tiêu hưu trí nếu bạn bắt đầu vào năm 2000. May mắn thay, đối với các nhà đầu tư bắt đầu vào năm 2007, xin chúc mừng, giờ bạn đã quay trở lại điểm hòa vốn.

Thật không may, có rất ít nhà đầu tư thực sự nhìn thấy lợi nhuận thị trường trong 12 năm qua. Như đã lưu ý, phần lớn các nhà đầu tư bỏ toàn vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán vào năm 2007 đã rời khỏi thị trường vào cuối năm 2008. Sau khi bị bầm dập như vậy, phải mất nhiều năm họ mới dám quay trở lại thị trường. Lợi nhuận của họ rất khác so với những gì truyền thông chính thống tuyên bố.
Mặc dù chiến lược đầu tư “mua và nắm giữ” đem lại siêu lợi nhuận khi thị trường đi lên, nhưng nó có thể khiến các nhà đầu tư trầy da tróc vẩy khi thị trường lao dốc. Khi số vốn của họ bị rút cạn, họ có xu hướng đưa ra những sai lầm đầu tư nghiêm trọng khiến cho khả năng họ được các mục tiêu tài chính dài hạn bị ảnh hưởng đáng kể.
Bạn có thể nghĩ rằng bạn có đủ can đảm để lèo lái và chống đỡ, nhưng có lẽ bạn chẳng thể làm gì.
Nhưng ngay cả khi bạn có thể làm được gì đó, quay trở lại điểm xuất phát không phải là một chiến lược đầu tư để đạt được mục tiêu hưu trí của bạn.
Đối với nhiều nhà đầu tư đã đạt được mục tiêu tài chính của mình, có lẽ họ nên nhìn lại những gì đã xảy ra trong năm 2000 và 2007. Thị trường con bò tót hiện nay đã kéo dài quá lâu, mức định giá tăng cao và người ta ngày càng tin rằng “lần này sẽ khác”.
Phân tích rủi ro mà bạn đang phải đối mặt và những hậu quả mà bạn có thể phải gánh chịu trong tương lai là một việc nên làm.

S&P 500 Và Nasdaq Composite Lập Kỷ Lục Mới, Dow Jones Cộng Hơn 100 Điểm



S&P 500 và Nasdaq Composite leo lên mức cao kỷ lục mới vào ngày thứ Tư (19/02), khi nhóm cổ phiếu công nghệ có thành quả vượt trội, giữa lúc nhà đầu tư tiếp tục cân nhắc ảnh hưởng của COVID-19 đến nền kinh tế toàn cầu, CNBC đưa tin.

Kết thúc phiên giao dịch ngày thứ Tư, chỉ số S&P 500 tiến 0.5% lên 3,386.15, vượt qua mức cao mọi thời đại trước đó là 3,385.09 điểm, còn chỉ số Nasdaq Composite tăng gần 0.9% lên 9,817.18 điểm. Trong khi đó, chỉ số Dow Jones cộng 115.84 điểm (tương đương 0.4%) lên 29,348.03 điểm.
Cổ phiếu Apple đã góp phần vào đà tăng trên, tiến 1.5%. Chứng chỉ quỹ Technology Select Sector SPDR ETF – theo dõi lĩnh vực công nghệ thuộc S&P 500 – tăng hơn 1% lên mức cao mọi thời đại. Cổ phiếu Tesla vọt hơn 6.5% sau khi một chuyên gia phân tích tại Piper Sandler nâng giá mục tiêu của công ty này từ 729 USD/co lên 928 USD/cp.
Vào ngày thứ Tư, Ủy ban Y tế Trung Quốc báo cáo có thêm 1,749 ca nhiễm mới virus corona trên toàn quốc, đánh dấu số ca nhiễm mới mỗi ngày thấp nhất kể từ cuối tháng 01/2020.
“Các dấu hiệu đáng khích lệ tiếp tục xuất hiện trong tuần qua cho thấy sự bùng phát virus corona của Trung Quốc… được kiểm soát”, Yan Wang, Chiến lược gia Trung Quốc và các thị trường mới nổi tại Alpine Macro, nhận định. “Các yêu cầu kiểm dịch nghiêm ngặt của Trung Quốc có thể sẽ sớm được nới lỏng, và trọng tâm của Chính phủ sẽ nhanh chóng chuyển từ việc kiểm soát virus sang hỗ trợ nền kinh tế”.
Bloomberg News đưa tin Trung Quốc đang xem xét sử dụng các biện pháp sáp nhập và đổ tiền vào để bảo lãnh ngành công nghiệp hàng không, vốn chịu tổn hại nặng nề bởi COVID-19.
Tuy nhiên, tổng số ca nhiễm đã vượt mốc 74,000 ca, trong khi số trường hợp tử vong vì virus là hơn 2,000 người. Các trường hợp nhiễm COVID-19 cũng được báo cáo ở hơn 20 quốc gia trên thế giới. Tháng trước, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tuyên bố tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu.
Về mặt dữ liệu kinh tế, chỉ số giá sản xuất (PPI) của Bộ Lao động Mỹ đã tiến 0.5% trong tháng 01/2020, đánh dấu tháng tăng mạnh nhất kể từ tháng 10/2018. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cũng công bố biên bản cuộc họp tháng 01/2020, theo đó cho thấy các quan chức Fed nghĩ lãi suất vẫn duy trì ở mức hiện tại ở thời điểm này. Biên bản họp cũng phản ánh COVID-19 đang được Fed theo dõi

Vàng Thế Giới Tăng 5 Phiên Liên Tiếp



Các hợp đồng vàng tương lai tăng phiên thứ 5 liên tiếp vào ngày thứ Tư (19/02), khi nhà đầu tư tiếp tục mua vào các tài sản trú ẩn an toàn, mặc dù chứng khoán cũng tăng cao nhờ vào sự lây lan chậm lại của virus corona ở Trung Quốc, MarketWatch đưa tin.

“Tôi tin rằng các nhà đầu tư bán lẻ đang đổ vào chứng khoán, trong khi những nhà đầu tư thận tổ chức tỏ ra thận trọng hơn và tìm kiếm các kênh trú ẩn an toàn”, Jeff Wright, Phó Chủ tịch điều hành tại GoldMining Inc, nhận định.
Kết thúc phiên giao dịch ngày thứ Tư, hợp đồng vàng giao tháng 4 tiến 8.20 USD (tương đương 0.5%) lên 1,611.80 USD/oz, đánh dấu mức đóng cửa cao nhất kể từ ngày 21/03/2013, dữ liệu từ FactSet cho thấy.
Theo CNBC, cũng trong ngày thứ Ba, hợp đồng vàng giao ngay cộng 0.3% lên 1,607.16 USD/oz.
Trong phiên giao dịch điện tử, hợp đồng vàng đã tích tắc tăng nhanh, rồi đảo chiều giảm khỏi mức đóng cửa trong ngày thứ Tư. Hợp đồng này dao động ở mức 1,610.50 USD/oz ngay sau khi biên bản cuộc họp tháng 01/2020 của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) được công bố. Biên bản họp cho thấy các quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tin rằng nền kinh tế Mỹ dường như đã mạnh hơn so với dự báo vào cuối tháng 01/2020.
Tuy nhiên, giá vàng hiện đã tăng từ đầu tuần đến nay, bất chấp một số yếu tố có thể gây sức ép lên kim loại quý. Vàng được hỗ trợ bởi lợi suất trái phiếu Chính phủ suy yếu và Fed đang giữ lãi suất thấp, các chuyên gia phân tích cho biết.
Lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm đang dao động ở mức 1.561%, tăng nhẹ vào ngày thứ Tư, nhưng vẫn giảm trong tuần qua. Lãi suất thấp có thể khiến vàng trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư, vì kim loại quý không đem lại lợi suất.
Vàng đã nhanh chóng xóa bớt đà tăng sau khi dữ liệu kinh tế Mỹ được công bố vào sáng ngày thứ Tư.
Chỉ số giá sản xuất (PPI) tại Mỹ tiến 0.5% trong tháng trước, mức tăng lớn nhất kể từ mùa thu năm 2018 và cao hơn dự báo tăng 0.2% từ các chuyên gia kinh tế tham gia cuộc thăm dò của MarketWatch. Và một báo cáo về nhà ở cho thấy các nhà xây dựng đã bắt đầu xây dựng nhà ở mới tại Mỹ với tốc độ 1.57 triệu ngôi nhà trong tháng 01/2020, Bộ Thương mại Mỹ cho biết, sụt 3.6% so với mức 1.63 triệu nhà hồi tháng 12/2019, nhưng vọt 21.4% so với cùng kỳ năm trước.
Trong số các kim loại trên sàn Comex, hợp đồng bạc giao tháng 3 tiến 0.9% lên 18.311 USD/oz, mức đóng cửa cao nhất kể từ đầu tháng 01/2020. Hợp đồng đồng giao tháng 3 nhích gần 0.1% lên 2.606 USD/lb.
Hợp đồng bạch kim giao tháng 4 cộng 1.1% lên 1,004.50 USD/oz, mức đóng cửa cao nhất kể từ ngày 24/01/2020. Hợp đồng paladi giao tháng 3 vọt gần 3% lên 2,571.20 USD/oz, leo lên mức cao kỷ lục mới.

Tesla (TSLA): Hãy Phớt Lờ Các Tiêu Đề, Dù Bạn Cho Rằng Giá Tăng Hay Giảm



Tháng Năm năm ngoái, đã từng có một bài viết về sự hiện diện của Tesla (TSLA) trên các phương tiện truyền thông sau khi Adam Jonas của Morgan Stanley công bố một báo cáo nghiên cứu. Trong vòng chưa đầy một năm, vấn đề tương tự lại xuất hiện, nhưng với lý do hoàn toàn ngược lại.

Ở thời điểm đó, mọi tin tức đều là về kịch bản giá xuống của Jonas, ông này cho rằng nếu TSLA không thuận buồm xuôi gió, giá của nó có thể lao dốc và chỉ còn 10 USD. Đó là thời điểm mà TSLA là “con ghẻ” của thị trường, vì vậy dường như đặt “TSLA” và “10 USD” bên cạnh nhau là một điều hấp dẫn khó cưỡng đối với nhiều người cố gắng giật tít câu view. Điều đó là không công bằng cho Tesla, nhưng nó cũng không công bằng với Jonas.
Trong báo cáo đó, ông ấy đưa ra “dự đoán” rằng TSLA sẽ giảm xuống còn 10 USD – điều mà nhiều tin tức truyền thông cố gắng truyền tải. Ông chỉ đơn giản đặt ra ba kịch bản: giá lên, trung lập và giá xuống. Chắc chắn là không có tiêu đề nào phản ánh thực tế là giá cổ phiếu TSLA có thể tăng gần 100% như trong kịch bản giá lên của Jonas.
Ghi chú nghiên cứu gần đây nhất của Morgan Stanley có cùng một cách tiếp cận là đặt ra cả ba trường hợp. Mặc dù vậy, TSLA giờ đây là cổ phiếu được lòng thị trường và mọi sự chú ý của giới truyền thông lại hướng về kịch bản giá lên của Jonas. Điều đó đã dẫn đến những tiêu đề như thế này tại Bloomberg: “Tesla Analysts do About Face and Shares Resume Their Rally” (Các nhà phân tích của Tesla bỗng nhiên chuyển hướng và cổ phiếu tái lập đà tăng trưởng) và bài viết “Morgan Stanley raises its ‘bull case’ on Tesla to $1,200” (Morgan Stanley nâng dự báo kịch bản giá lên đối với Tesla lên 1.200 USD) trên CNBC, tập trung vào những dự đoán của Morgan Stanley nhưng chỉ đề cập đến trường hợp tăng giá.
Những tiêu đề đó không sai, nhưng cách dùng câu chữ gây hiểu lầm cho các nhà đầu tư. Do đó, cần rút ra một vài bài học quan trọng ở đây.
Đầu tiên, hãy cảnh giác với các tiêu đề. Hãy đọc toàn bộ bài viết và đừng để tâm đến những giả định.
Tiêu đề không phải luôn phản ánh chính xác bản chất của câu chuyện. Chúng được viết ra với dụng ý thu hút sự chú ý của bạn và được viết trên giả định khá hợp lý rằng bạn sẽ đọc phần nội dung của bài viết. Nếu bạn không làm như vậy, hoặc giả bạn làm như vậy nhưng suy nghĩ của bạn bị các giả định trong tiêu đề chi phối, đó là vấn đề của bạn chứ không phải của người viết ra tiêu đề.

Thứ hai, mục tiêu giá của các nhà phân tích, dù được dựa trên những cơ sở vững chắc và hữu ích ở từng thời điểm, chỉ là những ước đoán. Chúng dựa trên thông tin có sẵn tại thời điểm đó nhưng luôn có thể được điều chỉnh. Trở lại thời điểm tháng Năm năm ngoái, khi những trang báo có các bài viết về mức giá dự báo 10 USD lên kệ, TSLA vừa mới giảm giá xuống dưới 200 USD. Không ai, thậm chí cả những nhà đầu tư lạc quan nhất, dự tính rằng chưa đầy một năm sau, cổ phiếu này được giao dịch ở mức giá hơn 800 USD.
Bây giờ nó đã chạm mốc giá này, các nhà phân tích phải điều chỉnh theo thực tế. Nếu họ ủng hộ quan điểm giá lên chín tháng trước và đặt mục tiêu giá rất mạnh là 400 USD, thì bây giờ cũng là mục tiêu giá đó, nhưng nó sẽ phản ánh một thông điệp ngược lại. Cụ thể, 400 USD là ước tính rằng giá sẽ giảm xuống rất sâu. Họ có thể nghĩ rằng cổ phiếu này tăng giá quá mức, nhưng ngay cả như thế, có lẽ cũng không muốn khuyến nghị rằng cổ phiếu sẽ mất 50% trong tương lai gần.
Điều chỉnh giá mục tiêu theo hướng đi lên là điều không thể tránh khỏi, nhưng hầu hết các nhà phân tích không muốn nâng mục tiêu giá thêm 150% hoặc nhiều hơn so với dự đoán gần nhất của họ, bởi điều đó không khác nào thừa nhận rằng trước đó họ đã nhận định sai quá nhiều. Kết quả là, nhiều mức giá mục tiêu mới đó sẽ ám chỉ sự giảm giá của cổ phiếu.
Tuy nhiên, đối với các nhà đầu tư TSLA, câu hỏi mà họ phải tự đặt ra cho mình vẫn không đổi. Xe điện có phải là tương lai của ngành công nghiệp ô tô không? Và nếu có, thì liệu Tesla có thể duy trì vị thế dẫn đầu trong lĩnh vực này không? Nếu câu trả lời của bạn là có, thì khuyến nghị 1200 USD đang xuất hiện nhan nhản trên các tiêu đề ở thời điểm hiện tại, một lúc nào đó, sẽ trông có vẻ thận trọng như những khuyến nghị giá lên 500 USD vài tháng trước.
Theo nasdaq

Giá dầu tăng dù sản lượng dự trữ tăng ngoài kì vọng



Giá dầu tăng vào thứ Năm tại châu Á dù rằng Viện dầu khí Hoa Kỳ công bố kho dự trữ dầu thô của nước này tăng ngoài kì vọng.
Giá dầu thô WTI tương lai tăng 0,5% lên 53,77USD lúc 1:10AM ET (0510GMT). Giá dầu thô Brent tương lai tăng 0,4% lên 59,34USD.
Theo API, trong báo cáo hàng tuần, kho dự trữ dầu thô của Mỹ tăng 4,2 triệu thùng trong tuần trước. Trong khi đó, các nhà kinh tế dự báo mức tăng 2,5 triệu thùng.
Các nhà kinh tế dự báo Cơ quan thông tin năng lượng (EIA) sẽ công bố kho dự trữ dầu thô tăng 2,5 triệu thùng tại báo cáo tuần của mình, phát hành lúc 11:00AM ET.
Lo ngại về nguồn cung tại Libya và các lệnh trừng phạt của Mỹ lên một đơn vị của Rosneft, công ty năng lượng của Nga, được cho là thông tin hỗ trợ cho thị trường dầu ngày hôm nay.
Các báo cáo qua đêm cho rằng các nỗ lực đàm phán ngừng bắn tại Libya đã đổ vỡ sau khi lực lượng quân đội quốc gia Libya phá hủy một chiếc tàu của Thổ Nhĩ Kỳ tại cảng Tripoli. Cảng này được cho là có vũ khí và đạn dược, theo Bloomberg.
“Libya đã từng xuất khẩu 1,2 triệu thùng dầu/ngày”, Phil Flynn, một nhà phân tích của Price Futures Group tại Chicago, nói trong một báo cáo của Bloomberg. “Lượng dầu xuất khẩu này nhiều hơn mức giảm cầu ước tính, từ khoảng 400.000 đến 1 triệu thùng/ngày. Dù mức giảm cầu là bao nhiêu đi chăng nữa thì vẫn thấp hơn lượng cung bị giảm bởi Libya và qua thời gian, lượng dầu thiếu hụt sẽ tích tụ lại”
Trong khi đó, Mỹ cho biết đang áp dụng các lệnh trừng phạt lên một đơn vị thuộc Rosneft, công ty dầu mỏ lớn nhất của Nga, do vẫn có quan hệ với Tổng thống Nicolas Maduro của Venezuela và công ty dầu mỏ của quốc gia này.

Thị trường chứng khoán châu Á biến động khi Trung Quốc giảm lãi suất cơ bản




Thị trường chứng khoán châu Á biến động vào ngày thứ Năm sau khi Trung Quốc cắt giảm lãi suất cơ bản (LPR) như dự kiến.
Chỉ số Shanghai Composite tăng 0,5% lúc 10:59PM ET (0259GMT). Chỉ số Shenzhen Component tăng 1,3%.
Lãi suất cơ bản 1 năm được điều chỉnh giảm 10 điểm cơ bản, trong khi lãi suất cơ bản 5 năm được điều chỉnh giảm 5 điểm cơ bản, Ngân hàng trung ương Trung Quốc công bố trong ngày hôm nay. Quyết định này đã được thị trường dự báo từ trước.
Ngân hàng trung ương Trung Quốc cho rằng: “Các yếu tố cơ bản của nền kinh tế Trung Quốc không thay đổi”. “Nền kinh tế Trung Quốc, tuy nhiên, đang phải đối mặt với nhiều thách thức nhưng sẽ không để phát sinh những rủi ro tài chính lớn”.
Về dịch bệnh, cơ quan y tế Trung Quốc thông báo nước này có thêm 114 ca tử vong, 394 ca mắc mới vào ngày 19/2. Tổng số người đã tử vong vì dịch bệnh đã tăng lên đến 2.118 người và có 74.576 người mắc bệnh.
Theo CNBC, số ca mắc bệnh mới giảm nhiều do các thống kê mới của Bắc Kinh giúp Hubei loại trừ các ca “phát hiện nhiễm bệnh qua khám lâm sàng”.
Chỉ số Nikkei 225 của Nhật tăng 0,4%.
Chỉ số KOSPI giảm 0,6% khi số người nhiễm bệnh tăng lên 82 người vào thứ Năm tại Hàn Quốc. Ngày hôm qua, nước này khẳng định có 31 ca trong ngày hôm qua.
Xuống dưới phia Nam, chỉ số ASX200 tăng 0,3% sau khi dữ liệu của Văp phòng thống kê Hàn Quốc cho biết tỷ lệ thấp nghiệp tháng 1 tăng lên 5,3%, sau khi điều chỉnh yếu tố mùa vụ, tăng so với mức 5,1% trong tháng 12.
Cổ phiếu của Qantas Airway tăng hơn 5% sau khi công ty cho rằng họ đang giảm bớt số chuyến bay tới châu Á vì dịch bệnh.

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2020

Apple Pay Dự Kiến Sẽ Đạt 686 Tỷ USD Giao Dịch Trong Vòng 5 Năm Tới


Theo báo cáo nghiên cứu, vào năm 2024 các giao dịch Apple Pay toàn cầu của Apple sẽ đạt 686 tỷ USD, chiếm 52% thị trường.

Một nghiên cứu gần đây về các khoản thanh toán không tiếp xúc được thực hiện bởi Công ty nghiên cứu thị trường Juniper Research đã đưa ra dự đoán rằng thị trường thanh toán không tiếp xúc trên toàn cầu sẽ tăng trưởng khoảng ba lần. Ngoài ra, họ tuyên bố rằng Apple sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ sự tăng trưởng này.
Theo báo cáo nghiên cứu, vào năm 2024 các giao dịch Apple Pay toàn cầu của Apple sẽ đạt 686 tỷ đô la, sẽ chiếm 52% thị trường. Đạt được con số này chủ yếu là do sự gia tăng nhu cầu thanh toán không tiếp xúc và sự gia tăng số lượng thiết bị Apple Pay đang hoạt động.
Nghiên cứu đã xem xét tất cả các hình thức giao dịch không tiếp xúc, bao gồm thanh toán qua thẻ và thanh toán OEM. Thanh toán OEM thường bao gồm các hệ thống thanh toán từ các công ty phi ngân hàng, chẳng hạn như Apple Pay, Google Pay và Samsung Pay.
Nhìn chung, nghiên cứu cho thấy đến năm 2024, thị trường thanh toán không tiếp xúc toàn cầu sẽ tăng trưởng từ 2 nghìn tỷ đô la hiện nay lên gần 6 nghìn tỷ đô la. Hầu hết trong số chúng sẽ thông qua thẻ không tiếp xúc và giao dịch thanh toán OEM sẽ chiếm khoảng 22%. Điều này sẽ cho phép quy mô thị trường của nó đạt tới 1,32 nghìn tỷ đô la, trong đó Apple Pay phải chiếm hơn một nửa.
Apple Pay sẽ chiếm 52% giao dịch thanh toán OEM. Một động lực chính của việc này là việc mở rộng Apple tại các khu vực trọng điểm, bao gồm khu vực Viễn Đông, Trung Quốc và người dùng Europe Pay ở khu vực châu Âu thông qua chương trình thẻ Apple. Mặc dù Google và Samsung đã có những bước tiến lớn trong thanh toán tuy nhiên Apple có một hệ sinh thái thống nhất hơn sẽ cho phép họ duy trì vị trí dẫn đầu thị trường của mình.

Một phần của sự gia tăng dự kiến trong việc sử dụng thanh toán không tiếp xúc là do sự tăng trưởng dự kiến trong các thiết bị có thể đeo (như Apple Watch) có thể thực hiện các giao dịch như vậy. Juniper Research báo cáo rằng vào năm 2019, 100 triệu thiết bị có thể đeo đã được bán ra thị trường, trong đó có khoảng 20 triệu thiết bị đã được sử dụng cho việc thanh toán không tiếp xúc.

IBM Sẽ Ở Đâu Trong 5 Năm Tới?



Tương lai trước mắt của IBM (NYSE: IBM) mang đến cả những điều hứa hẹn và không chắc chắn. Khi công ty tìm cách tích hợp Red Hat vào hoạt động của mình và tiếp tục chuyển thành công ty điện toán đám mây, CEO Ginni Rometty tuyên bố bà sẽ rời khỏi vị trí vào tháng Tư. Cổ phiếu không có vị thế tốt dưới thời của Rometty. Cổ phiếu IBM được giao dịch khoảng 186 USD một cổ phiếu khi bà tiếp quản vị trí CEO vào tháng 1 năm 2012. Ngày hôm nay, nó được bán với giá khoảng 153 USD một cổ phiếu.

Hiện tại, khi người đứng đầu bộ phận đám mây của IBM tiếp quản công ty, các nhà đầu tư sẽ xem liệu nhà lãnh đạo mới có thể xoay chuyển tình trạng của cổ phiếu IBM hay không. Cuối cùng, màn thể hiện của CEO chuẩn bị nhận chức Arvind Krishna có thể sẽ xác định chỗ đứng của cổ phiếu IBM trong năm năm tới.

Hướng đi mới của IBM

Công ty đã tự tái tạo lại bản thân nhiều lần kể từ khi thành lập vào năm 1911. IBM hiện giờ cũng đang cật lực đổi mới bản thân thêm một lần nữa nhằm biến công ty công nghệ thông tin đa quốc gia trở thành một công ty đám mây, từ đó bù đắp cho mối lo ngại ngày càng tăng về doanh thu sụt giảm tại hầu hết các bộ phận của công ty. Để thúc đẩy quá trình tái tạo này, công ty đã mua Red Hat với giá 34 tỷ USD vào năm 2019.
Các nhà đầu tư chưa biết liệu Krishna có thể mang đến bước ngoặt cho công ty hay không. Nhưng họ đã đón nhận thương vụ này theo hướng tích cực và đẩy giá cổ phiếu IBM tăng hơn 13% kể từ khi công ty công bố thay đổi vào ngày 31 tháng 1.
Sinh ra ở Ấn Độ, Krishna đã làm việc tại IBM kể từ khi hoàn thành học hàm tiến sĩ tại Đại học Illinois vào năm 1990. Ông đã từng bước vươn lên và cuối cùng trở thành phó chủ tịch cấp cao về phần mềm nhận thức điện toán và đám mây. Điều này dễ khiến người ta liên tưởng và so sánh với một người Ấn Độ nhập cư khác đã vươn lên vị trí CEO của Microsoft (NASDAQ: MSFT) là Satya Nadella, người cũng đã lên lãnh đạo công ty sau khi điều hành bộ phận đám mây. Rất nhiều người tin tưởng Nadella sẽ giúp Microsoft xoay chuyển và biến công ty thành công ty thứ ba đạt mức 1 nghìn tỷ USD vốn hóa thị trường.

Liệu Krishna có thành công?

Vẫn còn quá sớm để nói liệu Krishna có mang đến ảnh hưởng tương tự cho IBM hay không. Bằng cách đặt người đứng đầu bộ phận đám mây phụ trách toàn bộ công ty, rõ ràng IBM đang báo hiệu cho Wall Street rằng đó là hướng đi chắc chắn của công ty.
Tuy nhiên, Krishna và Nadella là những người hoàn toàn khác biệt; bởi vậy những điểm giống nhau về mặt hồ sơ sẽ không hứa hẹn mang đến kết quả tương tự. Hơn nữa, Microsoft đã thực hiện động thái này sáu năm trước, thời điểm môi trường đám mây khác biệt đáng kể với lúc này và chỉ có duy nhất Amazon là đối thủ cạnh tranh lớn. Bây giờ thị trường đám mây đã xuất hiện Alphabet, Apple và nhiều doanh nghiệp lớn nhỏ đang cố gắng phân chia chiếc bánh béo bở này. Ngay cả với sự giúp đỡ của Red Hat thì việc trở thành người đi đầu trong mảng điện toán đám mây vẫn sẽ là một thách thức không dễ dàng.
Ngoài ra, chi phí mua Red Hat đã đặt IBM vào thế khó. Với thương vụ này, khoản nợ dài hạn của IBM đã tăng lên 58,4 tỷ USD vào cuối Q2 (tăng từ 39,7 tỷ USD trong quý trước). Hai quý sau, nợ dài hạn hiện ở mức 54,1 tỷ USD, nhưng vẫn là một gánh nặng đáng kể vì công ty chỉ nắm giữ 21 tỷ USD vốn cổ phần (giá trị còn lại sau khi trừ đi các khoản nợ từ tài sản). Và nếu chiến lược đám mây của công ty thất bại, chỉ với 8,2 tỷ USD tiền mặt trong tay, các lựa chọn tăng trưởng của IBM sẽ giảm đáng kể.

IBM cung cấp yếu tố tài chính hấp dẫn cho người mua 

Tuy nhiên, công ty này đã chẳng tồn tại được hơn 100 năm nếu không thích nghi với thay đổi của thời đại. Các nhà đầu tư trung thành hẳn đã cho rằng công ty vẫn có thể tiếp tục làm được như thế.
Hơn nữa, điểm bước ngoặt có lẽ đã dần xuất hiện. Lợi nhuận của IBM đạt mức thấp trong năm 2017 khi công ty kiếm được 5,8 tỷ USD. Vào năm 2019, thu nhập ròng đã tăng lên 9,4 tỷ USD ngay cả khi ba trong năm bộ phận của công ty đều chứng kiến ​​doanh thu giảm. Các nhà phân tích cũng dự báo tăng trưởng lợi nhuận trung bình vào khoảng 7,3% mỗi năm trong năm năm tới.
Hơn nữa, tỷ lệ P/E chuyển tiếp chỉ ở mức 10,8, chưa bằng một nửa tỷ lệ P/E trung bình là 22,4 của S&P 500. Nhà đầu tư cũng có thể thu về tỷ suất cổ tức hơn 4,1%, tỷ lệ chi trả cổ tức đã tăng trong 24 năm liên tiếp. Tỷ lệ chi trả cổ tức hay còn gọi là tỷ lệ phần trăm lợi nhuận dùng để chia cổ tức, hiện ở mức 60,8%. Đó là một chi phí đáng kể nhưng nằm trong tầm quản lý của công ty. Và với vị thế trên đỉnh các công ty “Quý tộc cổ tức”, nhiều khả năng IBM sẽ tiếp tục tăng trưởng số tiền chi trả cổ tức trong tương lai.

Tương lai của IBM nằm trong tay Arvind Krishna

Cuối cùng, lãnh đạo công ty sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định vị thế của cổ phiếu IBM trong năm năm tới. Mặc dù có vẻ công ty đã sẵn sàng đi theo bước chân của Microsoft, các nhà đầu tư không thể biết chắc liệu lịch sử có lặp lại hay không. Ngoài ra, với việc hầu hết các bộ phận của IBM có doanh thu sụt giảm và tình hình tài chính hiện tại của công ty, IBM không có Kế hoạch B rõ ràng trong trường hợp chiến lược đám mây thất bại.
Kế hoạch A có vẻ khá chắc chắn với CEO chuẩn bị nhận chức điều chuyển từ bộ phận đám mây (khu vực tăng trưởng hiện tại của công ty) và tổng doanh thu và lợi nhuận có xu hướng tăng cao kể từ năm 2017. Ngoài ra, với tỷ lệ P/E thấp và tỷ suất cổ tức tăng lên hơn 4%, các nhà đầu tư có động lực để mua vào mã này.
Nhưng, cuối cùng, vị thế của IBM trong năm năm tới sẽ phụ thuộc vào khả năng lãnh đạo của Arvind Krishna. Nếu ông có thể biến IBM thành một tay chơi sừng sỏ trong ngành đám mây, cổ phiếu IBM có thể sẽ giao dịch ở mức cao hơn nhiều vào năm 2025. Nếu ông thất bại, điều đó có thể sẽ mang đến rắc rối nghiêm trọng cho cổ phiếu công nghệ này.
 Theo fool